Hiển thị các bài đăng có nhãn 2- Phương pháp NCKH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 2- Phương pháp NCKH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 20 tháng 10, 2011

Đề cương bài giảng 1














Như vậy, chúng ta chuẩn bị bước vào lớp tập huấn về Nghiên cứu khoa học. Xin gửi đến các bạn đề cương chuyên đề 1 bao gồm hai nội dung: Phương pháp nghiên cứu khoa học và Nghiên cứu định tính

ĐỀ CƯƠNG
Tên chuyên đề:
Phương pháp nghiên cứu khoa học – Nghiên cứu định tính

Thời lượng: 
20 giờ (4 buổi)

Giáo viên hướng dẫn: 
Phạm Thị Ngọc Bích
(pngocbich@gmail.com)

Mục đích môn học
Sau khi học chuyên đề này sinh viên có thể nắm được các bước trong qui trình thực hiện một dự án nghiên cứu, được trang bị các kỹ năng để phát triển một dự án cũng như xây dựng được một đề cương nghiên cứu khả thi. Đồng thời sinh viên sẽ được trang bị các kiến thức và kỹ năng trong nghiên cứu định lượng.

Nội dung môn học

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1. Nghiên cứu khoa học là gì (A scientific research)?
2. Qui trình nghiên cứu (Research process)
3. Các kỹ năng cơ bản cần có của một nhà nghiên cứu
    a. Khả năng phát triển ý tưởng cho dự án nghiên cứu
    b. Khả năng tìm kiếm, đánh giá và sử dụng tài liệu tham khảo thích hợp
    c. Khả năng phát triển dự án nghiên cứu một cách đồng bộ
    d. Khả năng thu thập và phân tích dữ liệu
    e. Khả năng viết báo cáo và truyền đạt ý tưởng rõ ràng, đơn giản nhưng đủ ý
4. Đạo đức trong nghiên cứu khoa học (Research ethics)

Chương 2: XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
1. Phát triển ý tưởng cho dự án nghiên cứu (Generating ideas for research projects)
2. Cụ thể hóa, trau chuốt ý tưởng nghiên cứu (Refining research ideas)
3. Giới hạn phạm vi của dự án nghiên cứu (Limiting the scope of a research project)
4. Xây dựng cơ sở lý luận (Theoretical framework) cho đề tài nghiên cứu và đánh giá về các tài liệu tham khảo (Literature review)
5. Xác định phương pháp luận (research methodology) cho đề tài và phác họa các phương pháp nghiên cứu (research methods) dự định
6. Xây dựng đề cương nghiên cứu

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG NGHIÊN CỨU & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (RESEARCH METHODOLOGY AND METHODS)
1. Phương pháp luận trong nghiên cứu (Reseach methodology)
a. Nghiên cứu định lượng (Quantitative research)
b. Nghiên cứu định tính (Qualitative research)
2. Các yếu tố tác động đến việc lựa chọn phương pháp luận cho dự án nghiên cứu
3. Các phương pháp nghiên cứu (Research methods), tổng thể nghiên cứu và chọn mẫu cho dự án nghiên cứu (population and sampling)

Chương 4: PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
1. Phương pháp thu thập số liệu trong nghiên cứu định tính (Data collection methods)
a. Phỏng vấn (Interviews and focus group)
b. Quan sát (Observation)
c. Thu thập tài liệu sẵn có (Documentation)
2. Phương pháp phân tích số liệu trong nghiên cứu định tính (Data analysis methods)

Tài liệu tham khảo
1. Quinlan, C. (2011). Business research methods. Andover, Hampshire, U.K., South-Western Cengage Learning.
2. Creswell, J. W. (2009). Research design : qualitative, quantitative, and mixed methods approaches. Thousand Oaks, Calif., Sage Publications.

3. Veal, A. J. (2005). Business research methods : a managerial approach. South Melbourne, Vic., Pearson Addison Wesley.


Thứ Ba, 18 tháng 10, 2011

Critical thinking 2














Suy nghĩ tích cực hay suy nghĩ có phê phán là một điểm yếu của nhiều sinh viên Việt Nam hiện nay và cũng là một trở ngại lớn cho quá trình học tập của các bạn.

Một trong những điều trái với tinh thần của suy nghĩ tích cực là rập khuôn hay giáo điều. Một sinh viên có thể rất kính trọng thầy giáo hay thần tượng một tác giả, nhưng không vì thế mà chỉ lắng nghe hay đọc các phát biểu của họ một cách thụ động. Trái lại, tất cả những điều nghe được, đọc được đều phải suy nghiệm đúng sai, so sánh với những điều đã biết hay thực tế chung quanh. Có như vậy, những điều học được mới trở thành hiểu biết của chính mình chứ không phải là vay mượn của người khác.

Rõ ràng trong nghiên cứu khoa học, suy nghĩ tích cực là vô cùng cần thiết.  Để hiểu rõ hơn, mời các bạn đọc một bài trình bày ngắn gọn nhưng rất súc tích về vấn đề này.

Các bạn có thể download bài viết bằng một trong hai đường dẫn dưới đây:

Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2011

Nghiên cứu thực nghiệm - Giới thiệu phương pháp tìm ý tưởng, chọn hướng nghiên cứu cho một đề tài nghiên cứu thực nghiệm.

(Ghi chú: Bài viết chỉ mang tính chất kinh nghiệm cá nhân của người viết và chỉ nên sử dụng để tham khảo).

Giới thiệu
Mọi đề tài nghiên cứu khoa học đều xuất phát từ các ý tưởng khoa học và từ những ý tưởng này chúng ta sẽ phát triển thành hướng nghiên cứu, khi lựa chọn được hướng nghiên cứu phù hợp chúng ta sẽ bắt đầu thực hiện nghiên cứu. Một công trình nghiên cứu thực nghiệm (empirical research) cũng được bắt đầu tương tự. Do tính chất quan trọng của việc tìm ý tưởng và phát triển hướng nghiên cứu, bài viết này sẽ giới thiệu một phương pháp đơn giản trong việc tìm ý tưởng và phát triển hướng nghiên cứu cho một công trình nghiên cứu thực nghiệm.
Nghiên cứu thực nghiệm là gì?
Nghiên cứu thực nghiệm được định nghĩa như sau (theo wikipedia)
Empirical research is a way of gaining knowledge by means of direct and indirect observation or experience. Empirical evidence (the record of one's direct observations or experiences) can be analyzed quantitatively or qualitatively. Through quantifying the evidence or making sense of it in qualitative form, a researcher can answer empirical questions, which should be clearly defined and answerable with the evidence collected (usually called data). Research design varies by field and by the question being investigated. Many researchers combine qualitative and quantitative forms of analysis to better answer questions which cannot be studied in laboratory settings, particularly in the social sciences and in education.
Như vậy, hiểu một cách đơn giản là nghiên cứu thực nghiệm là tạo ra kiến thức mới và được chứng minh bởi dữ liệu trực tiếp hoặc gián tiếp.
Ý tưởng cho một công trình nghiên cứu thực nghiệm bắt đầu từ đâu?
Ý tưởng thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau, chẳng hạn thông qua việc được thầy cô giáo giới thiệu trên lớp, thông qua trao đổi với các chuyên gia trong một buổi hội thảo, hoặc là một ý nghĩ lóe lên trong chính chúng ta khi đọc được một bài báo khoa học, một công trình nghiên cứu tâm đắc, hoặc đơn giản là thông qua các đề tài gợi ý của blog này… Từ những nguồn này, chúng ta sẽ có những ý tưởng quan trọng để phát triển thành một đề tài nghiên cứu khoa học.
Trong phạm vi bài viết này, người viết sẽ giới thiệu phương pháp tìm ý tưởng và chọn hướng nghiên cứu cho đề tài nghiên cứu thực nghiệm với xuất phát điểm là các bài báo khoa học.
Lý do lựa chọn xuất phát điểm là các bài báo khoa học nghiên cứu thực nghiệm?
Các bài báo khoa học về nghiên cứu thực nghiệm (nhất là các bài báo khoc học mang tầm quốc tế) sẽ cung cấp những thông tin, kiến thức mới nhất về lĩnh vực đang nghiên cứu, do đó việc bắt đầu tìm kiếm ý tưởng từ các bài báo khoa học sẽ rất hữu ích. Đây là một phương pháp tiếp cận hay và thường được áp dụng cho nhiều công trình nghiên cứu khoa học (thậm chí phương pháp tiếp cận này còn hữu ích cho luận án tiến sỹ!)
Phương pháp tìm ý tưởng và chọn hướng nghiên cứu cho một công trình nghiên cứu thực nghiệm
Về cơ bản, phương pháp tiếp tìm ý tưởng và chọn hướng nghiên cứu dựa trên các bài báo khoa học có thể được tóm tắt trong các bước sau đây:
Bước 1: Tìm ý tưởng nghiên cứu
Trước hết, chúng ta nên bắt đầu bằng đọc sơ qua tiêu đề của các bài báo trong thời gian gần đây (2-3 năm trở lại) được đăng trên một số tờ báo hàng đầu của lĩnh vực đang nghiên cứu.
Thí dụ, các tờ báo hàng đầu trong lĩnh vực tài chính/kế toán trên thế giới có thể là Review of Financial Studies, Journal of Finance, Journal of Financial Economics, Journal of accounting and economics, Journal of accounting research, Accounting Review, Accounting Horizon… Ở Việt Nam, các tờ báo có chất lượng có thể là: Tạp chí Kế toán, Tạp Chí Kiểm toán, Tạp Chí Nghiên Cứu Khoa Học Kiểm toán… (Đối với các bài báo nước ngoài, thường thì để có được bài báo gốc chúng ta phải đăng ký trả tiền, do đó, một cách đơn giản và miễn phí là nên sử dụng website sau để tìm hiểu: www.ssrn.com. Bắt đầu search bằng một key words nào đó và giới hạn sự lựa chọn dần dần. Đối với các bài báo tiếng Việt, có thể tìm đến website của các tờ báo để đọc miễn phí.)
Khi nhận thấy một tiêu đề hấp dẫn thì nên tiếp tục với bài báo đó bằng cách đọc sơ qua phần tóm tắt (abstract) của bài báo (không cần đọc cả bài báo). Thông thường, chỉ cần đọc abstract thì có thể biết được rằng bài báo có hữu ích hay không. Đây là một bước tốn rất nhiều thời gian để tìm ý tưởng thích hợp, nếu gặp các khó khăn khi đọc và hiểu các thuật ngữ (nhất là các bài báo nước ngoài được viết bằng Tiếng Anh) thì nên sử dụng google để tìm hiểu thêm. Trong quá trình đọc, nên ghi chú một số nội dung cần thiết để khi cần có thể quay lại.
Bước 2: Chọn hướng nghiên cứu phù hợp
Khi đã nắm được thông tin một cách khái quát về các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, chúng ta có thể quyết định nên nghiên cứu về vấn đề gì. Thông thường, các đề tài được chọn là những đề tài cấp thiết và có tính chất quan trọng. Cách dễ nhận biết đề tài nào cấp thiết và quan trọng hay không là xem vấn đề mà chúng ta đang quan tâm có nhiều người đang thực hiện hay không. Lựa chọn được một hướng nghiên cứu phù hợp sẽ góp phần tạo nên một công trình nghiên cứu có giá trị.
Bước 3: Phát triển hướng nghiên cứu
Trong bước này, kỹ năng critical thinking (đọc lại bài viết về critical thinking) đóng vai trò quan trọng vì chúng ta sẽ bắt đầu đi sâu hơn vào các vấn đề chuyên môn. Bước này bắt đầu với việc chọn một số bài báo có sự liên quan mật thiết đến hướng nghiên cứu đã chọn và bắt đầu đọc toàn bộ bài báo.
Thông thường, trong một bài báo nghiên cứu thực nghiệm có cấu trúc gồm các phần sau: abstract (tóm tắt), introduction (giới thiệu), literature review (cơ sở lý luận), hypotheisis (giả thuyết), methodology (phương pháp nghiên cứu), data (dữ liệu sử dụng để nghiên cứu), results (kết quả nghiên cứu) và conclusion (kết luận).

Khi bắt đầu đọc về nội dung bài báo, trước hết cần đọc phần Introduction và Conclusion để xem trong bài báo này có những vấn đề mà chúng ta quan tâm hay không. Một bài báo được viết tốt sẽ cung cấp tất cả các thông tin cần thiết để chúng ta biết được bài báo này có phù hợp với hướng nghiên cứu của chúng ta hay không. Nếu không, bỏ qua bài báo này và tiếp tục với bài báo khác. Nếu có, chúng ta nên tiếp tục với phần còn lại (literature review, methodology, data and results).
Literature review sẽ cung cấp cho chúng ta sự hiểu biết đầy đủ về cơ sở lý luận liên quan. Literature review tóm tắt lại các công trình nghiên cứu trước đó, kết quả đạt được, những ưu điểm và hạn chế của các công trình đó và đồng thời sẽ giải thích tại sao cần có thêm những nghiên cứu khác để hoàn thiện hơn hệ thống kiến thức hiện tại. Ngoài ra, đối với các nghiên cứu mang tầm quốc tế, mỗi một lĩnh vực nghiên cứu đều có một vài nghiên cứu rất quan trọng đã thực hiện trước đó, phần literature review sẽ giúp chúng ta tìm đến với các bài báo quan trọng này khi cần thiết.
Hypothesis sẽ trình bày giả thuyết của tác giả về một vấn đề nào đó. Dựa trên các công trình nghiên cứu trước đây, tác giả sẽ đánh giá, phân tích, tìm các điểm manh, điểm yếu của các công tringh nghiên cứu trước, hoặc là liên kết các công trinh nghiên cứu lại với nhau… để hình thành nên một giả thuyết nào đó. Dựa trên giả thuyết này, tác giả sẽ tìm bằng chứng thực nghiệm để chứng minh các giả thuyết. Đọc và hiểu phương pháp xây dựng giả thuyết của tác giả trong từng bài báo sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong việc phát triển kỹ năng critical thinking nói chung.
Methodology và data là phần tương đối khó hiểu và đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn về kinh tế lượng, nhưng lại là phần cực kỳ quan trọng của bất kỳ một công trình nghiên cứu thực nghiệm nào. Trong phần này, tác giả sẽ sử dụng các mô hình toán học (thí dụ, hàm một biến, hàm nhiều biến…) kết hợp với dữ liệu để phân tích và cho ra kết quả thực nghiệm. Trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán và tài chính thì một giả thuyết chỉ được chấp nhận khi có bằng chứng từ thị trường tài chính với một phương pháp nghiên cứu phù hợp và dữ liệu đầy đủ, đúng đắn. Kiến thức hữu ích cho nghiên cứu thực nghiệm và đọc hiểu phần này là môn học kinh tế tượng (econometrics).
Results sẽ trình bày các kết quả và kết luận của tác giả về dựa trên dữ liệu đã được phân tích.
Trong quá trình đọc toàn bộ một công trình nghiên cứu, chúng ta có thể sử dụng kỹ năng critical thinking để đánh giá sự đúng sai, điểm mạnh và điểm yếu của từng công trình (cả về phương pháp nghiên cứu và dữ liệu, cách thức giải thích kế quả phân tích…). Chúng ta có thể phát triển thành cả một công trình nghiên cứu khoa học khác nếu chúng ta có một phương pháp nghiên cứu tốt hơn và dữ liệu tốt hơn.
Bước 4: Thực hiện đề tài
Khi đã tìm được hướng nghiên cứu, lựa chọn được phương pháp nghiên cứu và dữ liệu phù hợp thì chúng ta có thể bắt đầu công việc của một nhà khoa học – nghiên cứu và viết lại kết quả thực hiện được.
Để có một công trình nghiên cứu thực nghiệm có chất lượng, công trình của chúng ta cũng cần bao gồm tất cả các phần cần thiết như literature review, hypothesis, methodology, data và results.

Chúc các bạn thành công với hướng nghiên cứu mới ở Việt Nam - nghiên cứu thực nghiệm!
Trí Tri

Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2011

Critical thinking

Giới thiệu:

Critical thinking (tạm dịch là khả năng tư duy phê phán) là một kỹ năng rất cần thiết cho nghiên cứu khoa học, bài viết này sẽ giới thiệu làm thế nào để có thể phát huy tốt critial thinking nhằm đáp ứng cho việc nghiên cứu khoa học nói riêng và cho học tập nói chung.

Sự cần thiết của critical thinking

Tất cả các đề tài nghiên cứu khoa học đòi hỏi tác giả phải có những đóng góp mới cho khoa học (thế mới gọi là nghiên cứu!), tuy nhiên, sẽ là rất khó khăn (nếu không muốn nói là không thể) để có những ý tưởng sáng tạo và đóng góp có giá trị nếu không có được kiến thức nền tảng tốt về lĩnh vực đang nghiên cứu. Do đó, các nhà khoa học thường bắt đầu quá trình nghiên cứu với công việc hệ thống hóa lại các kiến thức có liên quan về lĩnh vực đang nghiên cứu. Những kiến thức cần thiết cho việc nghiên cứu có thể đến từ nhiều nguồn như các công trình nghiên cứu có liên quan, các bài báo khoa học, sách chuyên ngành... Đó chính là điểm bắt đầu của critical thinking trong khoa học. Dựa trên hệ thống kiến thức sẵn có, tác giả sẽ xem xét, đánh giá và phân tích để tìm ra những điểm mạnh (tính đúng đắn), những vấn đề còn tranh luận hay các yếu kém của các công trình nghiên cứu trước... Dựa trên những phân tích này, tác giả sẽ nêu ra quan điểm của mình và cung cấp bằng chứng để bảo vệ quan điểm của mình. Đó là toàn bộ quy trình vắn tắt của việc nghiên cứu. Toàn bộ quy trình này đòi hỏi một kỹ năng không thể thiếu (có thể nói là quan trọng nhất) đó là critical thinking.

Định nghĩa critical thinking

Critical thinking được định nghĩa như sau: 

Critical thinking, in general, refers to a higher-order of thinking that questions assumptions. It is a way of deciding whether a claim is true, false, or sometimes true and sometimes false, or partly true and partly false. The origins of critical thinking can be traced in Western thought to the Socratic method of Ancient Greece and in the East, to the Buddhist Abhidharma. Critical thinking is an important component of most professions. It is a part of the education process and is increasingly significant as students progress through university to graduate education, although there is debate among educators about its precise meaning and scope. (Theo Wikipedia)


Nói một cách đơn giản, critical thinking là xem xét và đánh giá một vấn đề nào đó là đúng, sai, hay vừa đúng sai, đồng thời nêu quan điểm của mình và cung cấp bằng chứng bảo vệ quan điểm của mình.

Làm thế nào để có thể nâng cao kỹ năng critical thinking

Khả năng về critical thinking phụ thuộc phần lớn vào kinh nghiệm học tập và nghiên cứu của mỗi người. Tuy nhiên, critical thinking là một kỹ năng có thể học tập và rèn luyện được, phần tiếp theo xin được giới thiệu bài viết về critical thinking của University of Sydney (Australia).

What is the difference between descriptive, analytical, persuasive and critical writing?
The simplest type of academic writing is descriptive, and its purpose is to provide facts or information. An example would be a summary of an article or a report of the results of an experiment. The kinds of assignment instructions for a purely descriptive assignment could be, e.g. identify, report, list, name, record, summarise, collect, define, etc.

However, it is rare for a university-level text to be purely descriptive. Most academic writing is also analytical. Analytical writing includes descriptive writing (i.e. facts or information), plus the added feature of re-organisation. That is, in analytical writing you not only give information, but you also re-organise it into categories, groups, parts, types or relationships. Sometimes, these are categories or relationships which are already part of the discipline (e.g. In the discipline of Law, there are 2 types of law: common law and statute law). Sometimes, these are categories or relationships which you create specifically for your text (e.g. If you are comparing two theories, you might break your comparison into 3 parts, based on 3 aspects of the theories, such as: how each theory deals with social context, how each theory deals with language learning, and how each theory can be used in practice). The kinds of instructions for an analytical assignment could be, e.g. analyse, compare, contrast, relate, examine, classify, etc.

In most academic writing, you are required to go at least one step further than analytical writing, to persuasive writing. Persuasive writing has all the features of analytical writing (i.e. information, plus re-organisation of the information) plus the added feature of your own point of view. Your point of view may be, for example, an interpretation of the findings, an argument or some recommendations. Most essays are persuasive, and there is a persuasive element in at least the discussion and conclusion of a research article. In persuasive writing, each claim that you make needs to be supported by some evidence – e.g. by a reference to an authoritative published source, by empirical findings or by original reasoning – whatever kind of evidence is appropriate for your discipline and the specific text you are writing. The kinds of instructions for a persuasive assignment could be, e.g. argue, evaluate, discuss, take a position; as well as evaluative language such as, e.g. more convincing, problem, opportunity, succeed, should.

Critical writing is common for research, postgraduate and advanced undergraduate writing. Critical writing has all the features of persuasive writing (i.e. facts + re-organised + your point of view), plus the added feature of at least one other point of view. That is, while persuasive writing requires you to have your own point of view on an issue or topic, critical writing requires you to consider at least two points of view, including your own. For example, you may explain a researcher's interpretation or argument, and then evaluate the merits of her argument, or give your own alternative interpretation. Examples of critical writing assignments include a critique of a journal article, or a literature review which finds the strengths and weaknesses of existing research. The kinds of instructions which can show that you are required to write critically could be, e.g. critique, debate, disagree, evaluate, etc. Usually these are accompanied by either the name of someone whose work you should critique (e.g. Chomsky (1975)) or else more general words for people’s opinions in the discipline, e.g. 'adherents of M-Theory', 'some may assume that…', 'qualitative versus quantitative approaches', 'those in working in the constructivist tradition', etc.

Many academic texts that you write will have some parts which are more analytical or descriptive, and other parts which are persuasive or critical. For example, an empirical thesis needs critical writing in the literature review, to show where there is a gap or opportunity in the existing research. However, the methods section will have many paragraphs which are mostly descriptive, in order to summarise the methods used to collect and analyse information. In the results section of an empirical thesis or a research report, there will be mostly descriptive and analytical writing, while the discussion section is more analytical, as you relate your findings back to your research questions, and generally also more persuasive, as you propose your interpretations of the findings.

Each of the types of writing above has specific language features. By developing your skill in these language features, e.g. by attending a workshop on critical writing (see links on the right), you can control how analytical, persuasive or critical your writing is.

How can I think, read or write more critically?
A simple definition of critical thinking, reading and writing is that it considers more than one point of view or interpretation.

Here is one step-by-step process you can follow for critical thinking or reading (e.g. of a theory, research article or recommendation):
  1. Identify the important choices which have been made. (For example, what is the author’s point of view? What methodology did the researcher choose? What type of action has been recommended? What evidence do they offer?)
  2. Think of some alternatives to those choices. (For example, what other points of view are possible? What other methodologies, actions or evidence could have been used?)
  3. Reach your own position on the alternatives. (For example, which point of view do you agree with? What are the strengths and weaknesses of the different methodologies or recommended actions?)
  4. Find some convincing evidence for your point of view. (For example, to what books or articles could you refer, to support your view? What examples or data can you draw on, to show that your view is convincing?)
There are other techniques for critical thinking and reading. (See Learning Centre workshops, or search the library catalogue for books on critical thinking: see links on the right.)

Critical writing requires strong writing skills. This is because you not only need to thoroughly understand the topic and the issues, but also to develop an essay structure and paragraph structure which will clearly analyse the different interpretations, develop an argument which considers more than one viewpoint, and provide convincing evidence for your view.

To build your skills in critical writing, there are several workshops which you can do (see the links on the right of this page). It can also be very helpful to look at some examples of critical writing by students within your discipline. Ask your tutor, lecturer or the office of your school or department whether there are any samples of good critical writing by previous students that you can look at. Also, you can look at professional critical writing in your discipline: Find some recent copies of a few top academic journals in your subject area, and look for some book reviews. A book review is one type of critical writing, and it will show you examples of the style and structure which is acceptable in your discipline.

How can I think, read or write more analytically?
Simply defined, analysis means re-organising facts or ideas. That is, analysis is the process of looking at facts or ideas and sorting them into categories, groups, parts, types or relationships.
  • Analytical thinking means seeing similarities and differences between facts and ideas, looking for patterns and trends, identifying real examples of an abstract principle, or breaking something into its different parts.
  • Analytical reading means doing the same things in relation to what you are reading; for example, considering how this article is related to what you have read before, looking at how the main ideas in the article can be broken into parts, thinking of real-life examples, etc.
  • Analytical writing means doing the same things mentioned above, and then naming the analytical categories you have thought about, and using them to organise the structure of your own text. For example, if you are writing a comparison of public and private education, you could name some categories of comparison, such as cost effectiveness, equity and political implications, and use these to structure your paragraphs.
Sometimes, you need to use analytical categories or relationships which are already part of the discipline. For example, in the discipline of Linguistics, there are grammatical categories, such as imperative, declarative and interrogative, which can be used to categorise real examples of spoken language. In the discipline of Law, there are two types of law: common law and statute law.

Often, however, you create new analytical categories or relationships, specifically for your text. For example, if you need to compare two theories, you might break your comparison into 3 parts, based on categories for comparing the theories, such as: how each theory deals with social context, how each theory deals with grammar, and how each theory can be used in practice.

To make your writing more analytical, here are some tips:
  • Spend plenty of time planning. Brainstorm the facts and ideas, and try different ways of grouping them, according to patterns, parts, similarities and differences, using colour-coding, flow-charts, tree-diagrams or tables.
  • Create a name for the relationships and categories you find: e.g. advantages, disadvantages.
  • Build each paragraph around one of the analytical categories.
  • Make the paragraph structure of your paper clear to your reader, by using topic sentences and a clear introduction.

I want help organising and analysing information.
There are two main approaches to organising and analysing information for academic writing, and most people prefer one of these:
  • The planning approach - Spend a lot of time on different types of planning before you begin writing. Only start writing when you know exactly what you will write in each paragraph.
  • The drafting approach - Start writing early, while you are still developing your ideas. Write many drafts and gradually re-organise your text until your ideas are clear and your paragraphs are well-structured.
Both of these approaches can be successful. However, if your tutor, lecturer or supervisor asks you to write more analytically, or more clearly, or to improve the structure of your writing, it may help to try some more planning stages.
1. Early planning - Capture as many ideas as possible, without worrying about structure, e.g.:
  • carefully read and think about the assignment or task, and what its purpose is
  • write brainstorm lists of key words
  • draw mind-maps, diagrams and flow-charts
  • discuss your ideas with someone else
  • list all the readings you could use
  • read the abstracts for the relevant sources and make notes on how each article could be useful
  • for a large task like a thesis or dissertation, use Endnote, or similar software, to save your references and notes
2. Middle planning strategies - Create some ways to structure the ideas and facts into groups, e.g.:
  • look for similarities, differences, patterns, themes or other ways of grouping and dividing the ideas under headings - e.g. advantages, disadvantages, causes, effects, problems, solutions, types of theory
  • use coloured highlighters or symbols to tag themes in your readings or notes
  • physically group your readings or notes into piles
3. Later planning strategies - Choose some of the themes or groups, to create a structure for your written text, e.g.:
  • draw some tree diagrams, showing which ideas, facts and references would be included under each heading
  • discard ideas which don't fit into your over-all purpose, and facts or references which are not useful for what you want to discuss
  • if you have a lot of information - e.g. for a thesis or dissertation, create some tables to show how each theory or reading relates to each heading (this is often called a 'synthesis grid')
  • plan the number of paragraphs you need, the topic heading for each one, and dot points for each piece of information and reference needed
  • try a few different possible structures until you find the one which works best

I want help developing my own point of view or argument.
Many writing tasks at university require persuasive writing, in which you present your own point of view. Common types of point of view in academic writing include an argument, a recommendation, interpretation of findings or evaluation of the work of others. All such positions need to be supported by evidence, such as research findings or reference to published sources.

Here are some strategies to help you reach your own point of view on the facts or ideas:
  • read some other researchers' points of view which have been published on this topic: who do you feel is the most convincing?
  • look for patterns in the data or references: where is the evidence strongest?
  • list several different interpretations: what are the real-life implications of each one? which ones are likely to be most useful or beneficial? which ones have some problems?
  • discuss the facts and ideas with someone else: do you agree with their point of view?
If you are writing an essay or a similar type of text, you will need some skills to develop an argument. This involves breaking your main point of view into parts, for example:
  • list the different reasons for your point of view
  • think about the different types and sources of evidence which you can use to support your point of view
  • consider different ways that your point of view is similar to, and different from, the points of view of other researchers
  • look for other ways to break your point of view into parts: e.g. cost effectiveness, environmental sustainability, precision of measurement, scope of real-world application, theoretical clarity, etc.

To present your point of view in writing at university, you need some skills for writing in an objective academic style. This means that you should:
  • use evaluative language which is moderate, not too strong - e.g. use very beneficial instead of wonderful, or use problematic instead of a failure.
  • use evaluative language which is technical, not emotional - e.g. use innovative, sustainable or comprehensive, instead of excellent or great.
  • use language (such as modality), to make your point of view more cautious - e.g. use more exercise could increase life expectancy, instead of more exercise always increases life expectancy.
Different disciplines have different styles for persuasive writing. For example, in some fields it is fine to write 'my view is that...' , while in some fields this is not acceptable. It is wise to look at the style used by experts to express interpretations, opinions and recommendations: check the Discussion and Conclusion section of published articles, and look for book reviews in scholarly journals in your discipline area.



Chúc các bạn thành công trên con đường học tập và nghiên cứu khoc học bắt đầu với CRITICAL THINKING!

Trí Tri

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2011

Tìm ý tưởng cho đề tài nghiên cứu













Đối với nghiên cứu khoa học (NCKH), việc xác định đề tài  đóng vai trò quyết định những bước tiếp theo của bạn. Bài viết hy vọng sẽ cung cấp cho bạn một số con đường để tìm được một đề tài cho riêng mình.

  1. Hãy bắt đầu bằng việc đọc các tài liệu liên quan đến lĩnh vực bạn yêu thích hoặc tham dự một buổi hội thảo nghiên cứu hay một loạt chuyên đề. Cố gắng là một người đọc, một người nghe chủ động bằng cách phân tích và tìm hiểu sâu hơn những vấn đề được đề cập. Tự đặt câu hỏi cho mình và xem xét câu hỏi nào chưa có đáp án, bạn có thể bắt đầu đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đó.
  2. Nghiên cứu các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí hay các nguồn dữ liệu trực tuyến. Bằng cách xem qua tên đề tài mà các tác giả khác đã viết hay danh mục các tài liệu tham khảo liên quan, bạn có thể xác định được vấn đề được quan tâm. Bắt đầu tìm hiểu về vấn đề, bạn sẽ tích cóp được một lượng kiến thức đủ để bắt đầu bài nghiên cứu cho riêng.
  3. Bắt đầu với một đề tài đã được các tác giả khác nghiên cứu bởi không có nghiên cứu nào là hoàn thiện. Những lỗ hổng, hạn chế trong nghiên cứu này sẽ mở ra hướng đi mới trong nghiên cứu của bạn. Sự khác biệt về không gian, thời gian và môi trường…cũng tạo ra sự khác biệt giữa nghiên cứu của bạn và của các tác giả trước.
  4. Xây dựng đề tài từ những vấn đề liên quan đến các môn học trên trường. Bạn đang học chuyên ngành kiểm toán và bạn cũng đã được tìm hiểu về hệ thống hoạch đinh nguồn nhân lực (ERP) trong môn Hệ thống thông tin kế toán. Vậy tại sao bạn không thử tìm hiểu về sự khác biệt trong công tác kiểm toán tại các doanh nghiệp sử dụng phần mềm kế toán thông thường và doanh nghiệp ứng dụng ERP trong quản lý doanh nghiệp.
  5. Dựa vào thực tế đang diễn ra. Xem xét những vấn đề đang được xã hội quan tâm. Ví dụ, cơn sốt giá vàng những tháng vừa qua đang thu hút rất nhiều sực quan tâm của công chúng lẫn các cơ quan chức năng. Bạn có thể bắt đầu đi tìm thực trạng, nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề này. Đề tài được phát triển từ thực tế sẽ mang tính cấp thiết cao.
  6. Giải pháp cuối cùng, nếu vẫn chưa tìm được đề tài cho mình, đừng ngại thảo luận với giảng viên hướng dẫn của bạn. Các thầy cô thường có danh sách một số đề tài mà bạn có thể tham khảo được. Hơn nữa, thầy cô cũng sẽ giúp đỡ bạn trong việc phát triển ý tưởng thành một đề tài NCKH.
 HẠ TRẮNG


Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

Phương pháp đọc tài liệu



















Để đánh giá một tài liệu tìm được có đúng là tài liệu đáng tin cậy và phù hợp không, chúng ta nên xem xét tuần tự qua các tiêu chí:
  • Nguồn gốc từ đâu?
  • Ngày đăng tải
  • Tiêu chí của sách
  • Tác giả là ai?
  • Nội dung có liên quan không?
Chúng ta thường có thói quen mỗi khi mở máy thì mở rất nhiều chương trình ứng dụng và thường bị xao lãng vào những việc không cần thiết. Để tránh cho việc đọc một cách vô ích, cần thiết tắt các chương trình ứng dụng không liên quan, tắt internet và tốt nhất là nên đọc tài liệu bằng giấy. Nó cũng giúp bạn cho việc ghi chú, highlight …. Trước đó bạn nên xác định mục đích đọc tài liệu như sau:
  • Đọc tài liệu này để làm gì?
  • Bạn muốn tìm kiếm thông tin gì?
  • Thông tin đó có phải là những vấn đề bạn quan tâm.
  • Có giúp bạn trả lời những thắc mắc.
Nghiên cứu là một quá trình khá lâu và trí nhớ con người thì hạn chế. Do đó, chúng ta cần có phương pháp để lưu trữ và tìm lại những khi cần thiết. Để mỗi lần đọc không trở nên vô ích và mất công đọc lại thì nên thực hiện việc đọc tích cực như sau:
  • Ghi chú, đánh dấu ý chính
  • Tóm tắt toàn bộ tài liệu hoặc một phần quan trọng
  • Biết lĩnh hội kiến thức, tiêu hóa thông tin một cách chủ động, có chọn lọc
  • Đánh giá, so sánh mối liên hệ giữa các ý, các tài liệu, các tác giả khác nhằm đưa ra một cái nhìn phân tích, tổng hợp, phê bình đối với mọi tài liệu.
THANH HƯƠNG

Các bước nghiên cứu khoa học



















Một quá trình nghiên cứu khoa học cơ bản sẽ trải qua các giai đoạn sau:

Bước 1: Lựa chọn chủ đề nghiên cứu
Tiêu chí chọn đề tài:
  • Nghiên cứu cái gì?
  • Mối quan tâm của ai?
  • Tính hữu ích? Tính cấp bách? Tính khả thi? (tham khảo ý kiến chuyên gia)
  • Chủ đề có mới mẻ không? (Không có khái niệm hoàn toàn mới. Phải có những đóng góp mới hay đặt lại những vấn đề hoặc đưa ra các giả thuyết mới).
  • Bạn có thích đề tài đó không? (đây là động lực giúp bạn vượt qua những lúc khó khăn nhất).
  • Có đủ thời gian để hoàn thành không? (Đề tài có quá rộng và vượt quá tầm của một nghiên cứu khoa học sinh viên không?)
  • Có các công cụ cần thiết không? (ở đây là có đủ nguồn lực cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu hay không. Ví dụ: laptop, phần mềm thống kê - biết cách sử dụng và phân tích…)
Ở giai đoạn này, sau khi xác định được đề tài, mục tiêu của cuộc nghiên cứu, sinh viên cần làm ngay công việc xác định đối tượng nghiên cứu, thời gian, không gian và khách thể nghiên cứu.

Bước 2: Xây dựng đề cương nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu sẽ bao gồm các nội dụng chính như sau:
  1. Lý do chọn đề tài
  2. Mục tiêu nghiên cứu
  3. Phương pháp nghiên cứu – các mô hình, nguồn số liệu dự kiến
  4. Lịch trình thực hiện
  5. Ý nghĩa
Trong giai đoạn này, điều quan trọng nhất là thiết kế, lập kế hoạch, lên quy trình, tiến độ thực hiện, bao gồm: những danh mục tài liệu cần tham khảo, các thông tin, dữ liệu cần thu thập, phân bổ thời gian, công việc cụ thể cho từng thành viên trong  nhóm.

Hai bước đầu tiên sẽ quyết định việc bạn có tiếp tục và hoàn thành cuộc nghiên cứu hay không. Bởi lẽ, khi bạn có thể xác định đúng đề tài, các phạm vi nghiên cứu và một kế hoạch kỹ lưỡng thì chắc chắn 90% bạn sẽ đi hết con đường.

Bước 3:Thu thập, xử lý thông tin đầu vào, xây dựng bảng câu hỏi, mô hình.

Bước 4: Phân tích số liệu và giải thích làm sáng tỏ các vấn đề nảy sinh từ kết quả tổng hợp các số liệu nghiên cứu.

Bước 5: Viết báo cáo . Đề xuất kiến nghị, ý kiến cá nhân

Ở các chủ đề tiếp theo, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn về cách thực hiện các bước trong quy trình nghiên cứu khoa học.

THANH HƯƠNG

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2011

Thu thập tài liệu - Báo cáo tài chính Việt Nam











Trong các nghiên cứu về thị trường vốn hoặc kế toán tài chính, các bạn thường cần báo cáo tài chính của các công ty niêm yết Việt Nam.
Một trong những trang web rất tốt là: http://cafef.vn/
Trên trang web này, bạn nhập tên công ty hoặc mã chứng khoán vào một cửa sổ bên tay phải, bạn sẽ vào được trang chứa thông tin liên quan đến công ty đó. Ở đây, bạn có thể tải về báo cáo tài chính của công ty cũng như xem nhiều thông tin về công ty (giá cổ phần, thành viên lãnh đạo, các công ty con…). Nhiều tin tức trên thị trường cũng như một số báo cáo phân tích ngành cũng được đưa lên.

Thu thập tài liệu - Bài báo khoa học















Hai loại bài báo khoa học có thể sử dụng tốt cho quá trình nghiên cứu là bài báo nghiên cứu và bài báo tổng quan.

Bài báo nghiên cứu (research article) trình bày về những phát hiện của một nghiên cứu cụ thể của chính các tác giả. Bài báo nghiên cứu thường bao gồm phần tóm tắt, phần giới thiệu mô tả các nghiên cứu trước đó về vấn đề và mục tiêu của tác giả, phần mô tả nghiên cứu (giả thiết, phương pháp, dữ liệu), phần kết quả nghiên cứu và cuối cùng là ý nghĩa của nghiên cứu. Loại bài báo này cung cấp thông tin hữu ích về những phát hiện mới cũng như sự đối chiếu với các nghiên cứu trước đó cùng chủ đề. Phạm vi của loại bài báo này thường khá hẹp để có thể cung cấp hiểu biết những vấn đề cơ bản và tương đối toàn diện về một chủ đề.

Bài báo tổng quan (review article) là nơi tác giả cố gắng trình bày một cách có hệ thống tất cả các nghiên cứu trước đó của những tác giả khác nhau về một chủ đề nào đó. Loại bài báo này có thể cho người đọc hiểu biết về những tác giả chủ chốt nghiên cứu về lĩnh vực/chủ đề, các phát hiện mới, sự khác biệt giữa các nghiên cứu, các tranh luận chung quanh chủ đề cũng như các hướng nghiên cứu mới. Nói chung, một bài báo tổng quan tốt có thể trang bị cho người đọc một hiểu biết khá cơ bản và đầy đủ về vấn đề mà bài báo hướng đến.

Dưới đây là 2 bài báo cùng bàn về việc thuyết minh trên báo cáo tài chính, một hướng nghiên cứu khá phát triển trong kế toán.

Bài báo thứ nhất là bài báo nghiên cứu, trong đó, tác giả trình bày nghiên cứu của mình về ảnh hưởng của quy mô, tình trạng niêm yết và lĩnh vực kinh doanh đến vấn đề thuyết minh báo cáo tài chính của các công ty niêm yết Nhật Bản.
Link 1:
Link 2:

Bài báo thứ hai là một bài báo tổng quan về các nghiên cứu thực nghiệm chung quanh việc thuyết minh trên báo cáo tài chính. Các thầy cô có thể tìm thấy rất nhiều thông tin hữu ích về hướng nghiên cứu về thuyết minh trong bài báo 60 trang này.
Link 1:
Link 2:

Thu thập tài liệu - Xác định từ khóa



















Bước đầu tiên trong việc thu thập tài liệu trên các công cụ tìm kiếm là xác định từ khóa (key word). Các trở ngại cho việc xác định từ khóa là:
  • Tên của chủ đề và từ khóa không giống nhau; đặc biệt là khi chúng ta xác định chủ đề bằng tiếng Việt, nhưng các từ khóa lại là tiếng Anh. Thí dụ, để nghiên cứu về việc thuyết minh trên báo cáo tài chính, chúng ta sẽ không dùng “note to financial statements” mà phải dùng từ khóa là “disclosure”.
  • Có những từ khóa liên quan đến nhiều chủ đề; nên khi dùng từ khóa để tìm kiếm thì kết quả phản hồi lại thuộc về các chủ đề khác. Thí dụ, chúng ta đang nghiên cứu về lĩnh vực thuyết minh báo cáo tài chính nói trên. Kết quả của việc sử dụng từ khóa “disclosure”sẽ cho chúng ta nhiều bài báo thuộc các lĩnh vực khác nhau có liên quan đến thuật ngữ này.
Để giải quyết vấn đề này, có thể sử dụng các giải pháp sau:
  • Đọc các sách giáo khoa bằng tiếng Anh liên quan đến chủ đề. Các sách này (text book), thường viết đơn giản nên không dùng để nghiên cứu nhưng giúp đỡ chúng ta khá nhiều để hiểu trong tiếng Anh, thuật ngữ nào được sử dụng để diễn đạt vấn đề trên.
  • Tra cứu trên wiki hoặc các website tương tự. Ưu điểm của cách này là tận dụng là siêu liên kết trên các trang website nay để nhanh chóng lần đến khái niệm hay thuật ngữ cần tìm.
  • Nhập vào Google (hay một công cụ tìm kiếm khác) từ khóa dự kiến hay cụm từ liên quan, đọc lướt qua các website được trả về để tìm kiếm thuật ngữ nào sẽ là từ khóa chủ chốt thường được sử dụng.
  • Sử dụng các từ khóa phụ để thu hẹp phạm vi tìm kiếm. Thí dụ, để tìm kiếm các bài báo liên quan đến “disclosure” nhưng của lĩnh vực kế toán, chúng ta sẽ đưa thêm cụm từ “accounting” vào để thu hẹp kết quả tìm kiếm. Hoặc để thu thập các bài báo mang tính tổng quan, có thể thêm từ “review”… Việc sử dụng chức năng tìm kiếm nâng cao cũng là một cách hay. Chúng ta có thể loại trừ một cụm từ gây nhiễu nhưng lại có tần suất xuất hiện lớn, hoặc chọn những bài báo trên một tạp chí nhất định…
Tìm từ khóa là một nghệ thuật. Nếu khéo léo và sáng tạo, có thể tìm được chiếc chìa khóa vàng để lấy được các thông tin cần thiết.